Thực hiện văn bản số 1176/UBND-XDNN&MT ngày 27/5/2026 về việc thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh Dại trên động vật; nhằm chủ động kiểm soát, ngăn chặn bệnh Dại phát sinh và lây lan trên địa bàn, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã xây dựng tài liệu và hướng dẫn các biện pháp phòng, chống bệnh Dại trên đàn chó, mèo, cụ thể như sau:
1. Thông tin về Bệnh dại
- Bệnh dại (Rabies) là bệnh lây truyền giữa động vật và người.
- Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở động vật máu nóng gây ra do vi rút Lyssa và Vesiculo thuộc họ Rhabdoviridae.
- Đường lây truyền: Vi rút xâm nhập qua các vết cắn, vết liếm, vết cào, da, niêm mạc bị tổn thương, vết thương hở.
- Động vật sau khi nhiễm vi rút dại có thời gian ủ bệnh khác nhau tuỳ thuộc loài, độc lực của vi rút và vị trí vết cắn. Vi rút xâm nhập vào cơ thể được nhân lên và hướng tới hệ thần kinh, phá huỷ mô thần kinh, gây nên những kích động điên dại và kết thúc bằng cái chết.
- Thời gian ủ bệnh ở động vật có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tháng, có thể lâu hơn, nhưng trước 10 ngày phát bệnh, vi rút có thể gây nhiễm cho người và động vật khác. Vi rút dại có nhiều trong nước bọt của chó, mèo và động vật mắc bệnh, kể cả khi con vật chưa có dấu hiệu lâm sàng.
- Bệnh dại là bệnh gây ra bởi virus dại, lây truyền từ động vật sang người qua chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm virus dại.
- Có 2 thể lâm sàng của bệnh dại là thể điên cuồng và thể dại câm (bại liệt). Trong đó, thể điên cuồng là phổ biến nhất. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cào, cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại. Đôi khi, có trường hợp mắc bệnh dại do hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm virus dại. Người bị bệnh dại nếu không kịp thời tiêm vắc xin phòng bệnh sẽ có nguy cơ tử vong 100%.
2. Triệu chứng
- Sau khi thú bị nhiễm trùng, virus bệnh dại sẽ xâm nhập và phát triển đầu tiên trong mô cơ, ở đây chúng có thể tồn tại mà không bị phát hiện trong nhiều ngày hoặc thậm chí là nhiều tháng. Trong thời gian ủ bệnh này (hoặc tiềm ẩn), con vật vẫn khỏe mạnh và không có một dấu hiệu biểu hiện bệnh nào.
- Tiếp đến bệnh dại sẽ bắt đầu xâm nhập tới các dây thần kinh trong cơ thể, tấn công tủy sống và não (các hệ thần kinh trung ương). Theo đó phải mất từ 12-180 ngày để virus lây lan qua các dây thần kinh ngoại vi và cuối cùng là hệ thần kinh trung ương. Từ đây bệnh bắt đầu tiến triển một cách nhanh chóng và con vật bắt đầu có những dấu hiệu rõ rệt của bệnh dại (virus này tồn tại trong nước bọt, nước mắt, sữa mẹ và cả nước tiểu của thú). Cuối cùng con vật sẽ chết trong vòng 4 hoặc 5 ngày. Bệnh thường được biểu hiện qua 2 giai đoạn chính: thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ phát bệnh.
a. Thời kỳ ủ bệnh:
- Thời kỳ ủ bệnh có thể thay đổi từ 10 ngày đến nhiều tháng tùy thuộc loài, độc lực của virút và vị trí vết cắn. Đa số bệnh phát ra trong vòng 21 - 30 ngày sau khi con vật nhiễm virút.
- Những triệu chứng này thường không bị phát hiện hoặc bị nhầm lẫn với triệu chứng của các bệnh khác, đó là lý do tại sao việc chẩn đoán bệnh cho vật nuôi trong giai đoạn này là cực kì khó khăn.
b. Thời kỳ phát bệnh: Thường được chia làm 2 thể là thể dại điên cuồng và thể dại câm (bại liệt).
Trong thực tế, nhiều con chó mắc bệnh dại có thể biểu hiện cả 2 dạng lâm sàng này một cách xen kẽ nhau, thời gian đầu có biểu hiện điên cuồng, bị kích động rồi sau đó chuyển sang dạng bị ức chế và bại liệt.
* Thể dại điên cuồng: Được chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ tiền lâm sàng:
Chó bị dại có dấu hiệu khác thường như: trốn vào góc tối, kín đáo, đến gần chủ miễn cưỡng hoặc trái lại, tỏ ra vồn vã thái quá, thỉnh thoảng sủa vu vơ, tru lên từng hồi hoặc bồn chồn...
- Thời kỳ điên cuồng:
+ Các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, cắn sủa người lạ dữ dội, quá vồ vập khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cũng nhảy lên sủa từng hồi dài.
+ Vết thương nơi bị cắn ngứa, chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu.
+ Chó bỏ ăn, nuốt khó, sốt, mắt đỏ ngầu, dãn đồng tử, con vật có biểu hiện khát nước, muốn uống nhưng không nuốt được, chó bắt đầu chảy nước dãi, sùi bọt mép, tỏ vẻ bồn chồn, cảnh giác, sợ sệt, cắn vu vơ hay giật mình, đi lại không có chủ định, trở nên hung dữ, điên cuồng (2 - 3 ngày sau khi phát bệnh).
+ Con vật bỏ nhà đi và thường không trở về, trên đường đi gặp vật gì lạ nó cũng cắn gặm, ăn bừa bãi, tấn công chó khác, kể cả người.
- Thời kỳ bại liệt:
- Chó bị liệt, không nuốt được thức ăn, nước uống, liệt hàm dưới và lưỡi nên trễ hàm, thè lưỡi ra ngoài, nước dãi chảy ra, chân sau liệt ngày càng rõ.
- Chó chết trong khoảng từ 3 - 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên, do liệt cơ hô hấp và do kiệt sức vì không ăn uống được.
Thể dại điên cuồng chỉ chiếm khoảng 1/4 các trường hợp chó dại, số còn lại là thể dại câm.
* Thể dại câm: Là dạng bệnh không có các biểu hiện lên cơn dại điên cuồng như thường thấy, chó chỉ có biểu hiện buồn rầu.
- Có thể bị bại ở một phần cơ thể, nửa người hoặc 2 chân sau nhưng thường là liệt cơ hàm, mồm luôn hé mở, hàm trễ xuống, lưỡi thè ra.
- Nước dãi chảy lòng thòng, con vật không cắn, sủa được, chỉ gầm gừ trong họng.
- Quá trình này tiến triển từ 2 - 3 ngày.
Nói chung thể dại câm tiến triển nhanh hơn thể dại điên cuồng, thông thường chỉ từ 2 - 3 ngày vì hành tủy của con vật bệnh bị virút tác động làm rối loạn hệ tuần hoàn và hô hấp sớm hơn.
3. Quản lý chó, mèo
* Đối với chủ nuôi chó, mèo (gọi chung là chủ vật nuôi):
a) Phải đăng ký việc nuôi chó với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại các đô thị, nơi đông dân cư;
b) Xích, nhốt hoặc giữ chó trong khuôn viên gia đình; bảo đảm vệ sinh môi trường, không ảnh hưởng xấu tới người xung quanh. Khi đưa chó ra nơi công cộng phải bảo đảm an toàn cho người xung quanh bằng cách đeo rọ mõm cho chó hoặc xích giữ chó và có người dắt;
c) Nuôi chó tập trung phải bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, không gây ồn ào, ảnh hưởng xấu tới những người xung quanh;
d) Chấp hành tiêm vắc xin phòng bệnh dại cho chó, mèo theo quy định;
đ) Chịu mọi chi phí trong trường hợp có chó thả rông bị bắt giữ, kể cả chi phí cho việc nuôi dưỡng và tiêu hủy chó. Trường hợp chó, mèo cắn, cào người thì chủ vật nuôi phải bồi thường vật chất cho người bị hại theo quy định của pháp luật.
* Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường:
a) Lập sổ quản lý chó nuôi trên địa bàn:
b) Hằng năm trước đợt tiêm phòng phải rà soát, thống kê, cập nhập thông tin về đàn chó nuôi trên địa bàn;
c) Quy định cụ thể việc bắt giữ chó thả rông ở nơi công cộng thuộc địa bàn quản lý; thành lập các đội chuyên trách để bắt chó thả rông và động vật mắc bệnh dại, có dấu hiệu nghi mắc bệnh dại; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về địa điểm tạm giữ chó bị bắt để chủ vật nuôi đến nhận; áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ vật nuôi; quyết định biện pháp xử lý chó bị bắt giữ trong trường hợp sau 48 giờ kể từ khi có thông báo mà không có người nhận;
d) Phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành thú y, y tế địa phương tổ chức tập huấn kỹ năng bắt chó thả rông và bắt động vật mắc bệnh dại hoặc có dấu hiệu nghi mắc bệnh dại cho các thành viên của đội chuyên trách; tổ chức được tiêm vắc xin phòng bệnh dại chống phơi nhiễm cho các thành viên của đội chuyên trách theo quy định của ngành y tế.
4. Phòng bệnh
* Phòng bệnh bắt buộc bằng vắc xin
Đối tượng tiêm phòng bắt buộc: Chó, mèo.
- Thời gian tiêm phòng
+ Hàng năm triển khai chiến dịch tiêm phòng đợt chính vào tháng 3 - 4. Ngoài ra, hàng tháng phải tiêm phòng bổ sung cho đàn chó, mèo mới phát sinh hoặc chó, mèo đã hết thời gian còn miễn dịch bảo hộ.
+ Liều lượng, cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắc xin.
- Phạm vi tiêm phòng: Tiêm phòng cho đàn chó, mèo thuộc diện tiêm phòng do cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định, bảo đảm tỷ lệ tiêm phòng đạt ít nhất 80% tổng đàn.
- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương để tổ chức đợt tiêm phòng vắc xin dại cho chó, mèo trên địa bàn. Trong vòng 07 ngày trước đợt tiêm phòng và trong thời gian triển khai tiêm phòng, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo hằng ngày trên các phương tiện truyền thông cho cộng đồng dân cư trên địa bàn về địa điểm và ngày tiêm phòng.
- Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn cụ thể việc tiêm phòng vắc xin dại trên địa bàn, thực hiện tiêm phòng và giám sát việc tiêm phòng và cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng bệnh dại cho chủ vật nuôi có chó, mèo được tiêm phòng vắc xin dại.
* Đối với vắc xin dại:
- Đối tượng tiêm: đàn chó, mèo 03 tháng tuổi trở lên.
- Tổng mức thu: 16.000 đồng/01 liều/01 con.
- Phí bảo hiểm: 10.500 đồng/01 liều/01 con (hiệu lực bảo hiểm sau 10 ngày tiêm phòng và kéo dài trong vòng 12 tháng)
- Chi phí tiêm phòng: 5.500 đồng/01 liều/01 con.
- Định mức hỗ trợ: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 100% tiền vắc xin.
5. Giám sát bệnh Dại
- Giám sát lâm sàng là biện pháp chủ yếu nhằm phát hiện sớm các ca bệnh dại ở động vật.
- Đối tượng giám sát chủ yếu là đàn chó nuôi ở vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao, địa bàn có chó nghi mắc bệnh Dại cắn người gây tử vong do lên cơn Dại.
- Chủ vật nuôi có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, giám sát chó, mèo nuôi của gia đình, nếu phát hiện con vật vô cớ cắn, cào người hoặc tấn công động vật khác thì phải cách ly và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc Cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y nơi gần nhất.
- Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định vùng có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao phát bệnh Dại, phối hợp với các cơ quan chức năng của ngành y tế xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện Kế hoạch giám sát bệnh dại trên địa bàn.
6. Xử lý động vật khi có ổ dịch Dại xảy ra
- Động vật mắc bệnh Dại, có dấu hiệu mắc bệnh Dại được xử lý như sau:
+ Tiêu hủy bắt buộc động vật chết, động vật mắc bệnh Dại.
+ Khuyến khích tiêu hủy chó, mèo có dấu hiệu mắc bệnh Dại; trường hợp không tiêu hủy phải nuôi cách ly để theo dõi trong vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại thì phải tiêu hủy theo quy định;
+ Khuyến khích tiêu hủy chó, mèo chưa được tiêm phòng vắc xin Dại nhưng đã tiếp xúc với chó, mèo mắc bệnh Dại; trường hợp không tiêu hủy phải nuôi cách ly để theo dõi trong vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại thì phải tiêu hủy theo quy định;
+ Chó, mèo vô cớ cắn, cào người phải nuôi cách ly để theo dõi trong vòng 14 ngày, nếu phát bệnh Dại thì phải tiêu hủy theo quy định.
- Đối với chó, mèo khỏe mạnh trong vùng có dịch bệnh Dại phải thực hiện nuôi nhốt trong thời gian có dịch.
- Việc xử lý động vật mắc bệnh phải được thực hiện ngay khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh Dại hoặc được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương kiểm tra, xác minh và kết luận động vật bị mắc bệnh Dại.
7. Để phòng dại cho chó và tránh lây sang người:
- Gia đình nuôi chó phải đăng ký với trưởng thôn, khu để chó được theo dõi và tiêm phòng vắc xin dại.
- Cách tốt nhất để phòng tránh bệnh dại lây từ chó sang chó và sang người là tiêm phòng bệnh dại hàng năm cho chó.
- Không nên thả rông mà cần xích nhốt chó lại để phòng tránh lây nhiễm bệnh dại từ con chó khác.
- Khi dắt chó ra nơi công cộng phải có dây xích và rọ mõm đề phòng chó cắn nhau và cắn người.
8. Khi bị chó, mèo cắn cần xử lý:
Không hoảng hốt, làm tất cả các bước sau để phòng chống nhiễm dại:
- Rửa ngay vết cắn với xà phòng dưới vòi nước chảy liên tục trong vòng 15 phút. Nếu không có xà phòng hãy rửa ngay vết cắn bằng vòi nước đây là biện pháp sơ cứu hiệu quả nhất phòng chống bệnh dại.
- Sát trùng vết cắn với thuốc sát trùng như còn y tế, cồn I ốt nếu có.
- Đến ngay trung tâm y tế gần nhất để được tư vấn, tiêm phòng dại kịp thời.
- Hạn chế làm dập vết thương và không băng kín vết thương.
- Tuyệt đối không tự chữa và nhờ thầy lang khám chữa.
Thực hiện: Nông Xuân Huế